Lời dẫn của TS Tô Văn Trường:
Nhà báo đại tá Buì Văn Bồng 35 năm làm báo, đã dự nhiều Đại hội Đảng, Hội nghị Tuyên giáo, tuyên huấn, học về triết học Mác –Lê-nin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, và rất nhiều các lớp tập huấn, Học tập Nghị quyết, Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi suy ngẫm rất lâu, nhà báo Bùi Văn Bồng viết bài "Cộng sản từ lý luận đến thực tiễn" gửi cho tôi bản thảo để góp ý. Sau khi sửa lại lần thứ 3 cả tên tiêu đề và một số ý "chỉnh cho chuẩn hơn", tác giả thể hiện rõ là người có thói quen học và nghe chăm chú, tập trung, kèm theo luận giải, suy lý từng vấn đề mình đã tiếp thu. Tác giả tự kiểm lại bản thân mình đúng là suốt đời đi theo Đảng, làm theo Đảng chỉ dẫn, học hành, va chạm, thảo luận và diễn đàn cũng không ít, nhưng tự thấy hầu như nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn với Đảng cầm quyền vẫn chưa thật sự thấy thấu đáo. Có vấn đề lý luận thấy phân tích cũng hay, nhưng khi nhìn vào thực tế lại thấy lý luận vẫn một đường, thực tế lại nằm ở nẻo khác. Đọc Nghị quyêt thì hầu như cả chục năm sau nhiều nội dung vẫn thấy giống nhau, trong khi thực tiễn cuộc sống lại không ngừng biến đổi. Cho nên, mỗi khi tự đem soi lý luận với thực tế cuộc sống, thấy vẫn còn nhiều tắc, vướng, có những điều còn khó lý giải, nhất là từ cảm thụ, nhận thức, suy lý đến quan sát.
Cái tâm lý sợ làm sai nghị quyết, cũng như bắt phải làm đúng theo nghị quyết, suy cho cùng là sự kìm hãm sáng tạo và trái quy luật tự nhiên của quá trình nhận thức, tư tưởng. Có những vấn đề, những nội dung khi đưa vào nghị quyết thấy cũng đúng, chấp nhận được, nhưng khi đưa nghị quyết vào cuộc sống, thấy thực tế đã đi xa nhiều, có những diễn biến không còn phù hợp, dám bổ sung, thay đổi nội dung và cách thức, lấy gia trị thực tiễn làm trọng, mới đúng vơi chủ nghĩa Mác. Đảng ta đã phải tự nhìn nhận là nhiều vấn đề về lý luận cần được nghiên cứu lại. Lý luận chưa theo kịp phát triển và nhu cầu xã hội. Qua đó cũng cần nên xem lại, ta có quá nặng về lý luận mà xem nhẹ nghiên cứu thực tiễn không? Và cả nghiên cứu đồng bộ lý luận gắn với thực tiễn thế nào chưa? Có Hội đồng Lý luận Trung ương, nhưng sao chỉ đơn thuần chỉ là lý luận? vv...
Một người bạn đồng tâm khác của tôi đã nhiều năm làm lãnh đạo của một tỉnh, là người rất thực tế cho rằng các chủ đề góp ý xây dựng Đảng người ta đã nói, viết, tranh biện quá ư là ...ngán!. Nhưng từ ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng "Các nước, đều có đảng chính trị cầm quyền". Chính xác!. Giữa các nước ấy chỉ khác nhau là kết quả đạt được. Cái khác nhau đó, là sự phù hợp của đường lối chính trị, hệ thống pháp luật và cơ chế vận hành có phù hợp với nền tảng văn hóa dân tộc, truyền thống lịch sử đất nước, thông lệ quốc tế (thời đại) và đặc biệt là sự hài lòng của nhân dân. Thước đo hiệu quả là lòng dân và hạnh phúc của nhân dân. Ngày hôm nay so với ngày hôm qua. Mặt bằng so sánh giữa nước ta và những quốc gia có điểm xuất phát tương đương với cái mốc thời gian nhất định. Có khi dân hài lòng về một phuong diện nào đó hơi lâu mà xét thấy có làm hạn chế sự thăng tiến của quốc gia so với một (hoặc một số) nước đối chứng thì đảng cầm quyền phải điều chỉnh đường hướng phát triển để chống tụt hậu. Thí dụ ta đánh thuế túi nilon quá rẻ, một cọng hành, vài ba trái ớt cũng cho vào một cái bọc, các bà đi chợ rất hài lòng, tha hồ mang về nhà và vứt ra đường. Khi môi trường trắng túi nilon, Bộ Tài Chính định tăng thuế lên thì bị phản ứng rầm trời. Các nước Bắc Âu ăn xài khủng khiếp là những nhà nước phúc lợi kiểu mẩu như Đan Mạch, Phần Lan, Anh quốc, ... và nước Đức... thì không lâm nguy, các anh Âu-Mỹ còn lại tha hồ vay nợ để tiêu xài với chính sách kích cầu "kinh niên" như Mỹ, Thụy điển, Ý, Tây Ban Nha v.v... là "nhà nước phúc lợi" từng được ước ao, khen tụng... nhưng có ai biết đâu, họ có một xài hai, nợ như chúa chổm. Người dân các nước ấy hài lòng, tự hào với sự phồn vinh quốc gia với chinh sách "khuyến khích tiêu sài" của các chinh phủ ấy hàng mấy thập kỷ ...thì nay phải xuống đường chiếm phố Wal, chửi bới nhà cầm quyền thắc lưng buộc bụng như ...chửi lộn!. Thật khôi hài!. Ngay trong sự hài lòng của dân chúng, nhà cầm quyền phải thấy trước mầm mống của sự không hài lòng sẽ trỗi dậy để chủ động điều chỉnh đường lối. Sự điều chỉnh từ xa, kịp thời là sự ổn định chủ động, tự giác. Rất minh bạch. Chế độ phong kiến vì không có cơ chế cho sự tự điều chỉnh ấy , nhất là phong kiến phương Đông, với thuyết Khổng -Mạnh ngự trị hàng ngàn năm mà vẫn còn là "khuôn vàng thước ngọc", nhà cầm quyền phong kiến cố tình dìm người dân trong "ánh hào quang" ấy hơi lâu ...nên sự tụt hậu là tất nhiên. Ta phải bình tâm xem lại gương nước Nhật. Cũng "cùng dòng chảy văn hóa Trung Hoa" nhưng tại sao họ cách xa bản gốc một trời một vực?. Cũng dân tộc Nhật, nhưng khi nhà cầm quyền thổi phồng tinh thần Võ sĩ đạo, dân tộc cực đoan, Thiên hoàng trên hết với học thuyết "Đại Đông Á" ...để triển khai chủ nghĩa phát xít thì người dân Nhật hài lòng cực độ để rồi đi đến kết cục thảm hại - đầu hàng nhục nhã.
Suy cho cùng, đúc kết lời dạy của Hồ Chí Minh rất chính xác "Khó vạn lần dân liệu cũng xong", "Đoàn kết dân tộc là bất biến để ứng vạn biến". Khi Hồ Chí Minh đang đấu tranh tìm đường cứu nước, Người nói : "Ngày nay nhiều học thuyết, nhiều chủ nghĩa, nhưng chỉ có CN Mác-Lênin là chỉ ta con đường giải phóng dân tộc. Nhưng chủ nghĩa Mac-Le Nin cũng là học thuyết phát triển chứ không phải đóng kín, duy tâm". Vậy, sau lời nói ấy của Người đến nay đã ngót hơn nửa thế kỷ và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người cũng đã hoàn thành, theo con đường Người đã chọn. Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng HỒ CHí MINH xứng đáng là học thuyết, là kim chỉ nam của Đảng ta. Trong tư tưởng của Người có đủ cả: Mac-Anghen, Lê-Nin, Tôn Trung Sơn và cả Thích Ca Mâu - Ni, Giê-Su nữa. Không phải toàn bộ mà là tinh hoa của các cụ, những tinh hoa còn sống với thời đại ngày nay vv....
Bài viết "Cộng sản từ lý luận đến thực tiễn " của nhà báo Bùi Văn Bồng tuy hơi dài nhưng rất đáng suy ngẫm. Xin chuyển để các anh chị và các bạn quan tâm tham khảo.
Suy cho cùng, đúc kết lời dạy của Hồ Chí Minh rất chính xác "Khó vạn lần dân liệu cũng xong", "Đoàn kết dân tộc là bất biến để ứng vạn biến". Khi Hồ Chí Minh đang đấu tranh tìm đường cứu nước, Người nói : "Ngày nay nhiều học thuyết, nhiều chủ nghĩa, nhưng chỉ có CN Mác-Lênin là chỉ ta con đường giải phóng dân tộc. Nhưng chủ nghĩa Mac-Le Nin cũng là học thuyết phát triển chứ không phải đóng kín, duy tâm". Vậy, sau lời nói ấy của Người đến nay đã ngót hơn nửa thế kỷ và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người cũng đã hoàn thành, theo con đường Người đã chọn. Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng HỒ CHí MINH xứng đáng là học thuyết, là kim chỉ nam của Đảng ta. Trong tư tưởng của Người có đủ cả: Mac-Anghen, Lê-Nin, Tôn Trung Sơn và cả Thích Ca Mâu - Ni, Giê-Su nữa. Không phải toàn bộ mà là tinh hoa của các cụ, những tinh hoa còn sống với thời đại ngày nay vv....
Bài viết "Cộng sản từ lý luận đến thực tiễn " của nhà báo Bùi Văn Bồng tuy hơi dài nhưng rất đáng suy ngẫm. Xin chuyển để các anh chị và các bạn quan tâm tham khảo.
Tô Văn Trường
CỘNG SẢN
TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN
Bùi Văn Bồng
Trước hết, tôi có đôi lời phi lộ, là viết bài này đi sâu về người cộng sản gắn lý luận với thực tiễn theo học thuyết Mác như thế nào, qua đó đặt ra vấn đề: Cộng sản, từ lý luận đến thực tiễn. Tôi đã 35 năm làm báo, đã dự nhiều Đại hội Đảng, Hội nghị Tuyên giáo, tuyên huấn, học về triết học Mác –Lê-nin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, và rất nhiều các lớp tập huấn, Học tập Nghị quyết, Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh… Vậy mà, cho đến nay, tự kiểm lại bản thân mình về góc nhìn này, đúng là suốt đời đi theo Đảng, làm theo Đảng chỉ dẫn, học hành, va chạm, thảo luận và diễn đàn cũng không ít, nhưng nay tôi tự thấy hầu như nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn với Đảng cầm quyền vẫn chưa thật sự thấy thấu đáo. Có vấn đề lý luận thấy phân tích cũng hay, nhưng khi nhìn vào thực tế lại thấy lý luận vẫn một đường, thực tế lại nằm ở nẻo khác. Đọc Nghị quyêt thì hầu như cả chục năm sau nhiều nội dung vẫn thấy giống nhau, trong khi thực tiễn cuộc sống lại không ngừng biến đổi. Cho nên, mỗi khi tự đem soi lý luận với thực tự cuộc sống, thấy vẫn còn nhiều tắc, vướng, có những điều còn khó lý giải, nhất là từ cảm thụ, nhận thức, suy lý đến quan sát.
Tôi vẫn ghi nhận cái lý đúng đã được đức kết: “Lý luận thì xám xịt, mà cây đời mãi mãi xanh tươi”. Một suy nghĩ khác mà tôi cũng phải tự nhắc mình phải rất thận trọng, phải nghĩ đi nghĩ lại. Đó là khi nói đễn cộng sản, một chủ nghĩa, một lý tưởng mà mình đã gần suốt cuộc đời, từ chỗ được truyền thụ kiến thức lý luận, tiếp cận, tán thành, có khi ca ngợi và đi theo, phụng sự. Một thời khá dài, cả mấy chục thập niên, mỗi nói đến Đảng cộng sản cần phải có ý thức là “đụng” đến sự thiêng liêng, là gần gũi, là hiện hữu, nhưng có gì vẫn thấy rất cao siêu. Mà nếu nói đến Đảng cộng sản phải nói và viết theo những gì người ta (nhà lãnh đạo, nhà giáo huấn, nhà tổ chức) đã nói và viết, phải đúng đường lối, đùng nghị quyết, không cẩn thận sẽ bị đánh giá là sai quan điểm, đường lối, sai nguyên tắc quy định, nói sai nghị quyết, và không khéo bị truy chụp là chống Đảng, bi nhắc nhỏ, xem xét, nặng hơn là đưa ra kỷ luật, truy tố. Tất nhiên, một đảng cầm quyền phải biết giữ cái quyền, ai đụng chạm, ai đi ngược, ai có động cơ chống đối đều phải xem lại, phải “ngăn chặn từ xa”. Nhưng, khi đặt ra yêu cầu mọi người phải tin và làm theo đường lối, liệu đã chắc chắn rằng đường lối như thế là đúng nhất, là chuẩn xác, là hay nhất, sát với thực tiễn đời sống xã hội hay chưa? Quy định đó đem lại sự bảo đảm an toàn hữu hiệu cho cầm quyền, cho ý tưởng vươn đạt cái gọi là sự thống nhất cao độ, nhưng nó lại ngăn chặn và triệt tiêu sáng tạo, làm cho cả hệ thống chính trị-xã hội đi vào rập khuôn, máy móc, công thức hóa. Cái bản chất vốn có như trời sinh ra là cuộc sống xã hội sinh động, phong phú, không ngừng biến động, lại bị đưa vào những câu chữ lý luận khô cứng, sáo mòn, rập khuôn dến mức bị đứng im, đóng khung bất động. Chỉ riêng như vậy cũng là sự thể hiện không biện chứng về các quy luật, phạm trù: Vận động và đứng im, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, về nguyên nhân và kết quả…Mà chỉ có từ trong thực tiễn mới thể hiện những diễn biến nội tại trong những quy luật vận động của tự nhiên và xã hội. Viết như trên đây, nếu như ai đó đánh giá là có động cơ xấu với Đảng, trước hết tôi không tán thành cách nghĩ và cách nhìn áp đặt đầy chủ quan, phiến diện ấy, vì thực chất người viết bài này xuất phát từ ý thức xây dựng Đảng. Tư tưởng con người không phải là bất di bất dịch, mà luôn luôn thay đổi tùy bối cảnh xã hội và những tác động khách quan từ cuộc sống. Tôn trọng tự do tư tưởng chính là bản lĩnh cần có ở những người cộng sản, bởi đó chính là vấn đề từ trong thực tiễn, quy luật của tự nhiên.
Người cha Các Mác, ông Heinrich Mordechai, cũng rất nhạy cảm khi ông biết phải tự chủ, đổi mới, coi trọng những phát sáng mới về tư tưởng sao cho phù hợp nhất với chính kiến của mình, trong đó thể hiện tính xu hướng khá rõ. Ông là con người rất thực tiễn. Ngay như việc theo đạo của ông Heinrich cũng thể hiện chữ “thời” và quan điểm tự cải biến tư duy rất rõ. Ông có nguồn gốc nhiều đời là giáo sỹ Do Thái, đã cải đạo sang Ki-tô giáo, dù ông có nhiều xu hướng thần luận. Nhưng khi luật của nước Phổ không cho phép người Do Thái làm về luật pháp, ông đổi sang đạo Lutheran. Sự thường trực của chí quyết tự chủ cải biến tư tưởng suy cho cùng là con người cách mạng. Ông không khô cứng, đã xác định theo đạo nào là không thay đổi, mà cải đạo nhiều lần trong đời H.Mordechi chính là sự làm gương về ý thức cách mạng của Các Mác.
Với Các Mác, mọi việc trên dời đêu phải được nhìn nhận và xem xét từ trong thực tiễn cuộc sống xã hội. Vì thế, “thực tiễn là sợi cho chỉ đỏ” xuyên suốt trong toàn bộ học thuyết của Mác. Với phẩm chất ấy, Các Mác là người rất nhanh nhạy và ưa đổi mới, con người thực sự cách mạng. Các Mác viết “Tư bản luận” vào nửa cuối thế kỷ 19, là dựa trên cấu trúc hiện hữu của nền tảng xã hội thời kỳ đó, dưa trên hạn định tư tưởng và phương thức sản xuất cũng như diễn biến xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ thẩm định và tiếp cần xã hội thời kỳ đó. Nhưng nếu như Các Mác có viết “Tư bản luận” vào thời kỳ đầu thế kỷ 21 này chắc chắn ông ta sẽ lược bỏ những lý giải nhât thời mà thêm vào những luận thuyết mới rất sát với thực tế các nước tư bản trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Bởi vì hơn 200 năm trước, Các Mác lấy đâu ra thực tiễn xã hội hiện nay để đưa vào học thuyết? Nếu như bê nguyên xi những câu Các Mác nói và viết thời đó, không đem soi vào thực tế xã hội mà bản thân mình đang sống hiện nay thì rất dễ bị đem cái đã quá xưa, hợp thời lúc đó, tại bối cảnh đó mà áp đặt vào cái tân thời, nghĩa là sẽ bị lạc hậu hóa từ suy lý và hành động.
Chủ nghĩa tư bản thời kỳ đó, với nền tảng của nó là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê qua gía trị thặng dư, là hình thức bóc lột cuối cùng trong lịch sử. Bản thân Các Mác cũng cho rằng chủ nghĩa của ông không bao giờ được xem là một hệ thống hoàn thiện, trường tồn cho mọi thời đại, mà là một hệ thống lý luận mở liên tục, và ông cũng tin rằng học thuyết “mở” của ông sẽ có những thực tiễn và lý luận bổ sung từ phong trào đấu tranh giai cấp, từ sự phát triển của các thể chế xã hội sau này, từ những biến đổi của cách mạng qua các thời kỳ. Lý luận của ông phủ hợp từ cuối thế kỷ 19, sát thực tế lịch sử của phong trào đấu tranh giai cấp thời kỳ đó, nay phải có cách nhìn để vận dụng phù hợp thời đại mới. Còn chủ nghĩa tư bản thời nay coi tư liệu sản xuất là nguồn vốn đầu tư, sử dụng khoa học kỹ thuật biến thành sở hữu trí tuệ, lấy cạnh tranh hàng hóa và mở rộng thị trường làm mục đích. Đồng tiền cũng đưa vào kinh doanh và cùng là thứ hàng hóa đặc biệt. Cái giá trị thặng dư của người lao động làm thuê nay chỉ đem lại lợi nhuận nhỏ, và không còn là nguồn thu chính vào túi các nhà tư bản. Giai cấp vô sản từ chỗ người làm thuê bị bóc lột, nay trở thành người làm thuê có mức lương cần thiết cho đời sống và có ký kết hợp đồng với chủ tư bản. Giá trị các phân tích lý luận của Các Mác hiện nay vẫn đang là thực tế cạnh tranh thị trường toàn cầu là quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hóa được phát triển trong quy luật cung và cầu, trong những quy luật của lưu thông tiền tệ.
Cho nên, cần tránh những xem xét, nhìn nhận nặng về bảo thủ, giáo điều, một chiều, đánh giá những biểu hiện tự do tư tưởng, những đề xuất hoặc hành động cải cách, những tư tưởng sáng tạo, mạnh dạn vận dụng lý luận chính trị-xã hội vào thực tiễn là biểu hiện của “xét lại”, là chống Dảng (như vụ ông Kim Ngọc là một trong những vị điển hình). Cách nhìn nhận, đánh giá như vậy là biểu hiện đi trật nguyên lý chủ nghĩa Mác, là sự tự tách rời thực tiễn, quan liêu cũng từ đó mà ra. Một thực tế cũng cần được ghi nhận là phân biệt Chủ nghĩa Mác-Lê-nin với câu nói của nhà minh triết.
Chủ nghĩa Mác-Lê –nin là chủ nghĩa của giai cấp vô sản, trực tiếp mang lại lợi ích cuộc sống và quyền xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân lao động, đấu tranh mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động, thực hiện công bằng xã hội, trên cơ sở vận dụng sát thực tiễn mỗi nước, mỗi dân tộc, mỗi hoàn cảnhvà thời điểm trên tiến trình lịch sử. Như Bác Hồ đã tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê-nin vào hoàn cảnh thực tế của cách mạng Việt Nam. Thế nên, nhà cách mạng trước hết phải nhìn từ thực tế, từ thực tế đi lên, và làm gì cũng phải sát thực tế. Xa thực tế cuộc sống coi như không còn xứng đáng là nhà cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Chỉ có những người chuyên tâm lý luận đơn thuần, xa rời thực tế, đem chủ nghĩa Mác phổ truyền một cách khô cứng, rập khuôn, máy móc, công thức hóa chủ nghĩa Mác-Lê-nin, giáo điều và bắt chước theo kiểu con vẹt, mới tham mưu cho lãnh đạo những điều mà lẽ ra phải để cho lãnh đạo sáng tạo, phát huy năng lực từ trong thực tiễn. Bản chất của cách mạng là đổi mới. Bảo thủ, không đổi mới, hoàn toàn không phải làm cách mạng. “Hệ thống lý luận mở liên tục”, như Các Mác đã khẳng định trong luận thuyết của mình chính là sự thể hiện tính cách mạng của lý luận chủ nghĩa Mác-Lê-nin trên những tầm cao mới, với mỗi biến thiên phát triển tất yếu của các thời đại mới. Do đó, sức sống của chủ nghĩa Mác là trường tồn và kim chỉ nam cho mọi thời đại. Khi coi lý luận chủ nghĩa Mác là hệ thống liên tục mở, không chỉ bó hẹp trong các câu chữ một thời, vấn đề là phải xem các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản, kể cả các đảng viên cộng sản, các vị đứng đầu cấp ủy, chính quyền có thấy cần mở, dám mở, có biết cách mở hay không mà thôi. Nhận rõ quan điểm này của Các Mác, trên cái nền gọi là “mở” ra từ lý luận cơ bản ấy, giáo sư Tương Lai đã khẳng định: “Trí tuệ của Các Mác đang chắp cánh cho chúng ta”.
Quan điểm triết học của Các Mác đã thể hiện quan điểm thực tiễn khi biết đem nhào luyện từ triết học duy tâm biện chứng của Hegel và triết học duy vật siêu hình của Feurbach. Trong triết học của Hegel, Các Mác đã phát hiện ra và kế thừa "hạt nhân hợp lý" trong vấn đề phương pháp luận triết học, đó là phép biện chứng, gồm biện chứng tự nhiên và biện chứng xã hội. Trong triết học của Feurbach, Các Mác đã tiếp nhận và kế thừa điểm tiến bộ về thế giới quan của Feurbach, đó là thế giới quan duy vật. Để sửa chữa những hạn chế của Hegel và những mặt chưa sát thực tế của Feurbach, Các Mác đã kết hợp những ưu điểm của hai triết học trên để tạo ra triết học của mình, đó là triết học Duy vật biện chứng. Công tác thực tiễn ở báo Rheinische Zeitung đã làm thay đổi cơ bản thế giới quan của Các Mác chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ-cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Để “thực tiễn là sợi chỉ đỏ” trong toàn bộ học thuyết, Các Mác đều bắt đầu từ sự tổng hợp hóa, khái quát hóa hàng loạt nguồn tư liệu thực tế mà ông có được trong quá trình đi làm báo và tại các diễn đàn, tranh luận, bút chiến với nhiều nhà triết học, xã hội học nổi tiếng ở Đức thời bấy giờ.
Theo Các Mác, thực tại không phải là một cảnh trạng do ai có thể tự tạo ra nó theo ý định chủ quan, mà là một tiến trình lịch sử diễn biến mãi không ngừng. Mấu chốt để nắm bắt thực tại là nắm bắt bản chất của biến đổi lịch sử. Cho nên, Chiến lược phát triển kinh tê-xã hội của Đảng ta vạch ra, cần được thường xuyên xem xét, bổ sung cho phù hopwj thực tế trên thế giới và trong nước, không nên cứ giữ nguyên cái bất biến trong nghị quyết để áp vào cái biến động thưởng nhật. Người lãnh đạo phải biết sự ra đời và vận hóa của các quy luật, nếu không, như trong 3 bái học quy luật mà cố Chủ tịch nước Trường Chinh đã đúc kết là “Làm trái quy luật, đi ngược lịch sử sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát”. Luận giải biện chứng của Các Mác là : “Quy luật có thể phát hiện được về sự biến đổi là biện pháp chứng, với sự vận động tam lập đi lập lại của tiền đề, phản đề và hợp đề. Biến đổi lịch sử không phải là ngẫu nhiên mà tuân theo một quy luật có thể phát hiện được. Điều giữ cho quy luật đó hoạt động không ngừng là sự phóng thể, chính nó bảo đảm rằng mỗi tình trạng kế tiếp sau cùng sẽ chấm dứt bằng những mâu thuẫn nội tại của nó.
Suy cho cùng, “cuốn theo chiều gió” là con người phải đi kịp tiến trình lịch sử nhân loại và ý nguyện đa số cộng đồng xã hội, trên cơ sở không được tách rời thực tiễn và vận dụng các quy luật cuộc sống để chủ động vận hóa cho phù hợp, với cái điểm đích là chất lượng, hiệu quả cao nhất. Tiến trình đó vượt ngoài sự kiểm soát của con người nhưng bị đẩy tới trước bằng chính những quy luật nội tại của nó và con người bị cuốn theo nó. Bảo thủ là sức ỳ lớn. Sức ỳ càng lớn thì sự trì trệ, chậm tiến càng rõ nét. Và đó cũng chính là nguy cơ dễ bị triệt tiêu, nhường chỗ cho sự ra đời và phát triển của cái mới phù hợp, tuân thủ quy luật hơn. Đem mớ lý luận cũ đem soi vào những biến đổi của thực trạng xã hội mà không tuân thủ để đổi mới lý luận cho phù hợp, lại bắt thực tế phải theo đúng như lý luận đã lỗi thời, đó là sai lầm lớn. Cho nên, thực tiễn chính là biết cách nắm đúng, nắm nhanh, theo kịp tiến trình phát triển của xã hội. Ở đó, tiến trình được diễn tả như thế sẽ tiếp tục cho đến khi đạt tới một hoàn cảnh mà trong đó tất cả những mâu thuẫn nội tại phải được giải quyết nhanh. Lúc ấy sẽ đủ sức vượt lên lực ma sát của sự khô cứng lý luận, sự ấu trĩ, bảo thủ, trì trệ, và do đó tự nó (thực tiễn) sẽ trở thành lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển.
Đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản là sự chỉ ra con đường duy nhất đúng của học thuyết Mác nửa cuối thế kỷ 19, khi chưa thực tế thành công của cách mạng vô sản. Nhưng khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản đã nắm quyền lực xã hội, thì cách vận dụng và nhìn nhận quan điểm về đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản phải khác, phải mạnh bạo và kiên quyết chuyển sang phương thức mới, nếu không sẽ chuyên chính với ngay chính giai cấp mình, giai cấp đã giao quyền lãnh đạo cho mình, trở thành “nồi da nấu thịt”, dẫn tới vi phạm quyền dân chủ do chính nhà lãnh đạo đã khởi xướng, do chính nhu cầu của giai cấp cần được thực thi với yêu cầu cao. Quay lại chuyên chính với người dân, thủ tiêu đấu tranh phê bình, tự phê bình, bóp chẹt tự do ngôn luận, bắt dân phải chấp hành răm rắp những mệnh lệnh khô cứng và sai lầm, thì vô hình trung nhà lãnh đạo tự mình sinh ra cái bệnh nói không trung thực, nói không đi đôi với làm, nới một dằng làm một nẻo. Rồi dẫn đến mất uy tín do người lãnh đạo đã làm sai quan điểm, đường lối, đi ngược lại mục tiêu, quyền lợi giai cấp. Chính quyền do dân dựng lên lại quay lại tranh giành quyền lợi với dân, đàn áp người dân, là hoàn toàn mất bản chất cộng sản “của dân, do dân, vì dân”. Nước ta đã tốn biết bao máu xương tiến hành đấu tranh giai cấp. Đừng để tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống là những cái mầm “tự diễn biến” tai hại, hình thành một thứ giai cấp bóc lột mới ngay trong lòng của Đảng cộng sản chân chính, ngày càng nặng tính đối kháng với giai cấp vô sản. Để rồi chính giai cấp vô sản lại phải làm cuộc đấu tranh chống lại đặc quyền đặc lợi kéo dây thành hệ thống để thực hiện công bằng xã hội. Tham nhũng, đặc quyền đặc lợi là đi ngược lại hoàn toàn với mục tiêu “thế giới đại đồng” của chủ nghĩa cộng sản đầy ước vọng tốt đẹp của loài người. Theo PGs.Ts Lê Bỉnh: Đặc quyền, đặc lợi là sản phẩm tất yếu của một chế độ xã hội độc đoán, chuyên quyền, không có dân chủ. Trong định nghĩa đấu tranh giai cấp V.I. Lênin cũng đã đề cập đến vấn đề này: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám ”.
Cái tâm lý sợ làm sai nghị quyết, cũng như bắt phải làm đúng theo nghị quyết, suy cho cùng là sự kìm hãm sáng tạo và trái quy luật tự nhiên của quá trình nhận thức, tư tưởng. Có những vấn đề, những nội dung khi đưa vào nghị quyết thấy cũng đúng, chấp nhận được, nhưng khi đưa nghị quyết vào cuộc sống, thấy thực tế đã đi xa nhiều, có những diễn biến không còn phú hợp, dám bổ sung, thay đổi nội dung và cách thức, lấy gia trị thực tiễn làm trọng, mới đúng vơi chủ nghĩa Mác. Đảng ta đã phải tự nhìn nhận là nhiều vấn đề về lý luận cần được nghiên cứu lại. Lý luận chư atheo kịp phát triển và nhu cầu xã hội. Qua đó cũng cần nên xem lại, ta có quá nặng về lý luận mà xem nhẹ nghiên cứu thực tiễn không? Và cả nghiên cứu đồng bộ lý luận gắn với thực tiễn thế nào chưa? Có Hội đồng Lý luận Trung ương, nhưng sao chỉ đơn thuần chỉ là lý luận? Câu này tôi đã hỏi một vị PGs.Ts làm công tác nghiên cứu khoa học xã hội ở Hà Nội. Ông ta tỏ ra khó chịu, bẳn gắt: “Tại sao ông lắm chuyện, lý luận đúc kết từ thực tiễn, rồi lại quay về phục vụ thực tiễn, thế nên lý luận cũng chính là thực tiễn, còn thắc mắc cái gì?”. Tôi lại nói: “Lý luận từ thực tiễn mà ra, thế sao không gọi là Hội đồng nghiên cứu Thực tiễn?” Ông Gs.Ts nọ quay sang dọa: “Ghê đấy nhỉ! Dám cãii lại Đảng rồi”. Tôi đành phải dừng, thôi tranh luận, mất công, có khi phiền. Ông ta cũng là bạn đồng môn, nên tôi tạm lui thôi, nhưng tôi vẫn chưa hết băn khoăn: Sao không có cơ quan nào chuyên ngành, chuyên trách nghiên cứu thực tiễn? Chỉ lo đi cơ sở cho nhiều vào, đừng cái kiểu làm việc bàn giấy, “sáng cắp ô đi tối cắp ô về, ham mê thành tích”, viết công trình khoa học, viết bài cho lãnh đạo đọc, viết báo cáo toonhr kết năm, cứ bản gốc biên tập lại, thay thời gian, vài số liệu mới, thêm vài động tác “tầm chương trích cú” là xong. Cho nên, cán bộ đi sát thực tiễn thì mới có thực tiễn phản biện lý luận, làm sao khớp xem lý luận đã đúng, chính xác, có giá trị đến đâu? Chỗ nào lý luận còn sai thực tiễn thì phải sửa nhanh. Hoặc là phải gọi Hội đồng Lý luận và Thực tiễn Trung ương mới vẹn nghĩa. Đừng để cái tên gọi sinh ra dị nghị là chỉ biêt có lý luận, nặng về lý luận suông, coi thực tiễn không ra gì, quan liêu là phải (!?).
Hậu quả do chất lượng lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội ngay từ cấp vĩ mô quá kém có nguyên nhân cơ bản là xa thực tế, xa chính nhân dân, giai cấp của mình, lực lượng cách mạng hùng hậu của Đảng. Các Mác cũng đưa ra đánh giá: “Khi đạt tới hoàn cảnh không xung đột, con người sẽ không bị cuốn theo những lực lượng nằm ngoài sự kiểm soát của nó, mà lần đầu tiên nó sẽ làm chủ số phận của mình”. Tại sao những yếu kém, những suy thoái, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn xa lạ với bản chất cộng sản đã xuất hiện khá rõ nét trong Đảng cá nửa thế kỷ rồi, nay vẫn ngang nhiên tồn tại, thậm chí ngày càng nặng nề, nguy hại hơn? Lãnh đạo mà không biết thương dân, không đi sâu, đi sát nắm bắt thực tế, ngại đi cơ sở, chỉ nắm tình hình qua báo cáo, nặng về hành chính, quan liêu, giải quyết cái gì cũng đầy chủ quan tùy tiện, không có hiệu quả thực tế, thậm chí ủng hộ cho cái sai, làm mất lòng dân thì hoàn toàn không phải là người cộng sản. Đừng để những yếu kém trong Đảng kéo dài, thành thứ bệnh nan y, như chứng ung thư hết thuốc chữa.
Hãy theo “thực tiễn là sợi chỉ đỏ’ xuyên suốt trong chủ nghĩa Mác mà sớm có những quyết sách, hành động đúng với bản chất, lương tâm của người cộng sản, những cán bộ cách mạng của dân, của Đảng. Đừng để xã hội xảy ra bất bình, bất ổn, rồi chính người dân lại phải đứng lên làm cuộc cách mạng để đổi mới chế độ hợp sở nguyện, hợp lòng dân. Ph.Ăngghen đã chỉ ra điều đó: “Chính do bản thân các sự biến và do những thành bại trong cuộc đấu tranh chống tư bản - do những thất bại nhiều hơn là do những thành công - mà công nhân không thể không cảm thấy rằng tất cả các môn thuốc vạn ứng của họ đều vô dụng, họ không thể không đi tới chỗ nhận thấy tường tận những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng giai cấp công nhân”.
Cũng theo Các Mác: “Hình thái xã hội trong đó sự tự do sẽ được thực hiện và sự thỏa nguyện sẽ giành được, sẽ không phải là xã hội thu nhỏ của những cá nhân hoạt động không phụ thuộc nhau như phái tự do chủ nghĩa hình dung, mà là một xã hội hữu cơ trong đó các cá nhân hòa nhập vào một toàn thể to lớn hơn nhiều, và do đó thỏa mãn hơn so với cuộc sống riêng rẽ của họ”. Vậy, tự nhìn lại thực trạng Đảng ta hiện nay, hơn 3 triệu Đảng viên, các nhà lãnh đạo từ địa phương đến Trung ương, Bộ, ngành,… đã hòa nhập vào thực tế đời sống, như cấu thiết thân, tâm tư nguyện vọng của người dân lao động được bao nhiêu? Các sai lầm, khuyết điểm của Đảng ta đang phải chính đốn chỉ có trong thực tế mới chỉ ra được. Mà trong thực tế thì không ai hiểu rõ, nắm chắc, luận giải bằng nhân dân. Đừng nói đến thanh trừng, mà đây phải là sự mạnh dạn thanh lọc, phải kiên quyết và nhanh chóng đưa ra khỏi Đảng những đảng viên đã biến chất, mất chất cộng sản. Muốn vậy, cái bài quen đã xưa cũ và không mang tính Đảng là “đóng cửa bảo nhau”, hoặc là “xử lý nội bộ” đã mất lòng dân, mất niềm tin nhiều rồi. Nói Nhà nước pháp quyền mà thực thi pháp luật không chính xác, không nghiêm minh, sao cứ hô hào “xây dựng Nhà nước pháp quyền”. Muốn vậy phải thực sự tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe và đáp ứng dân ý, dân nguyện; đồng thời cần xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên dù công tác ở bất kỳ cương vị nào đã mất đi phẩm chất người cộng sản, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, hách dịch, vi phạm dân chủ. Để người dân mạnh dạn phát huy dân chủ, giúp cho việc củng cố, chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cần có cơ chế bảo vệ những người phát hiện và có dũng khí đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi. Cho nên, cuộc chính đốn này phải dựa vào dân là chính. Khi Đảng ta bị mất uy tín lớn đối với dân, không có lòng dân và sức dân xây dựng Đảng, thì cuộc chính đốn Đảng sẽ hiệu quả thấp, thậm chí lại mang tiếng là hô lên để mị dân, tự xoa dịu, nói mà không làm đến nơi đến chốn thì vẫn rơi vào thực trạng như nhiều khóa trước là: Nghị quyết nêu thực trạng mạnh dạn, dám nhìn thẳng và đánh gia đúng thực trạng, có vẻ như sát thực tế, nhưng lại không làm, hoặc là chỉ làm “ù xòa qua loa cho xong chuyện”. Thế nên, lòng dân rất mong ở Đảng, thực hiện Nghị quyết TW4 lần này đừng để lặp lại tiền lệ đã thành điệp khúc “hô hào, họp hành hăng hái” rồi đâu lại nằm nguyên đấy mà thôi.
Bùi Văn Bồng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét